Thứ Tư 13/11/2013, 17:31 GMT+7

Thiếu tướng Mai Văn Phúc: Với quê hương tôi mang nặng nghĩa tình

(nguoiquangxaque.vn) Chiều muộn, TP.HCM bất chợt đổ mưa. Căn phòng làm việc của Thiếu tướng Mai Văn Phúc vẫn không ngớt vang lên lời ca hùng tráng như xua đi cái se lạnh của những ngày cuối đông: “Mãi mãi lòng chúng ta, ca bài ca người lính…” (Hát mãi khúc quân hành của Diệp Minh Tuyền)...

 mai-van-phuc-gdnq-1.jpg

... Gương mặt vị tướng thật trầm tư. Cả đời trải qua suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, ông chưa bao giờ nguôi những suy nghĩ, trăn trở về những ngày tháng cam go, khốc liệt nhưng cũng rất đỗi hào hùng này. Bởi trong ký ức của mình, ông vẫn luôn nhớ về những đồng đội, những người đã cùng ông vào sinh ra tử. Nơi đó, ông mang nặng lòng tri ân với sự vun đắp, hy sinh của đồng đội để ông vững bước trên con đường dài chinh chiến của mình.

Trong ngôi nhà ở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Mai Văn Phúc - người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho cách mạng, cống hiến cả cuộc đời cho quân đội, được trao tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và bạn đời của ông cùng nhau đi qua những năm tháng xế chiều trong yên bình, ấm áp, trong niềm hạnh phúc hết sức bình dị.

Và, ông mở đầu câu chuyện bằng một bài thơ của Đoàn Cán bộ chiến sĩ Tăng Thiết giáp Nam Bộ dành tặng vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam - Võ Nguyên Giáp:

Kính tặng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Xuân về đất nước nở muôn hoa

Tăng Thiết giáp kính mừng Đại tướng

“Người anh Cả” tình cao muôn trượng

Tô điểm giang sơn rạng rỡ giống nòi

Cuộc đời anh một tấm gương soi

Cây cổ thụ xum xê bóng mát

“Việt Nam – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”

Vọng đến năm châu vang khắp nước non nhà.

                                                                    Đinh Hợi 2007

Đoàn Cán bộ chiến sĩ Tăng Thiết giáp Nam Bộ

 mai-van-phuc-gdnq-4.jpg

Thiếu tướng Mai Văn Phúc (đứng thứ 2 từ trái sang) cùng Đoàn Cán bộ chiến sĩ Tăng Thiết giáp Nam Bộ trong một lần ra thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Tuổi thơ gian khó

Sinh ra trong một gia đình nghèo thuộc làng Khuê Bắc, thôn Sơn Thủy, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng). Đó là một vùng quê nghèo khó nhưng giàu tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau ở vùng duyên hải miền Trung, mảnh đất mà người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề làm nông và chài lưới, nhưng phần lớn bị bọn phong kiến, địa chủ cường hào chiếm giữ, hoặc bị đánh thuế nặng. Do vậy, những người dân nơi đây luôn hướng tấm lòng son sắt thủy chung về cách mạng và Bác Hồ dù bị địch đàn áp dã man.

Cũng như những bạn bè trang lứa khác, Mai Văn Phúc lớn lên trong cảnh nước mất, quê hương vẫn đang chìm đắm trong ách thống trị của thực dân. Tuổi thơ của tướng Phúc gắn liền với sự cơ cực và khổ đau. Bản thân gia đình thuộc tầng lớp bần nông” nên bố mẹ quanh năm phải đi làm thuê, làm mướn khắp vùng để nuôi các anh em.

Ông bồi hồi nhớ lại: “Từ nhỏ, ý thức được hoàn cảnh gia đình nên hai anh của tôi là anh Ba Dân và anh Tư đang học lớp ba, lớp tư đã phải nghỉ học giữa chừng để đi ở đợ, vừa đỡ được vài miệng ăn trong lúc đói kém vừa đỡ đần cha mẹ lo việc nhà. Tôi cùng các em ở nhà giúp cha mẹ việc nhỏ, đến mùa gặt thì đi lượm những bông lúa sót, lúa rời; mùa khoai đậu thì đi mót khoai đậu. Khổ nhất là giáp hạt, ngày ba tháng tám đói rét, thiếu trước hụt sau, bữa ăn phần nhiều là khoai sắn mà cũng không đủ no. Nhà trống, vườn cát trắng, đói cũng không tìm ra cái gì để ăn. Nhiều lúc đến bữa ăn chờ mẹ đi chợ về, hoặc có hôm chờ mẹ đem cơm cấy về. Vì quê tôi có thói quen và tục lệ là mẹ đi cấy thuê thì trưa được ăn cơm và chủ cho thêm đôi ba bát đem về cho con. Gọi là cơm nhưng thực ra một hạt cơm cõng tới chín mười lát khoai, sắn hoặc ngô. Nhưng mỗi lần thấy mẹ đi cấy về, mấy anh em mừng lắm vì có cơm ăn. Tôi nhận cơm mẹ đem về, lựa những hạt cơm ít ỏi nhường cho em, còn mấy anh em chia ăn phần còn lại. Cái ăn đã thế, cái mặc còn khó khăn hơn. Tấm áo, manh quần của mấy anh em chúng tôi được cha mẹ thay nhau vá nhiều lần mà vẫn chưa kín. Thấy gia đình tôi đông con, thiếu ăn, ông nội chú của tôi là Mai Đăng Phong đem tôi về chăn trâu cho ông để kiếm cơm. Cuộc sống khốn khó của gia đình tôi cứ thế trôi qua...”. mai-van-phuc-gdnq-5.jpg

Thiếu tướng Mai Văn Phúc (đứng thứ 5 từ trái sang, hàng đầu) tại lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Binh chủng Đặc công Anh Hùng.

Một đời binh nghiệp

Lớn lên trên cái nôi của phong trào đấu tranh nên sau Cách mạng tháng 8/1945, hòa vào không khí đấu tranh sục sôi của đất nước, Mai Văn Phúc đến với cách mạng, bắt đầu bằng việc tham gia vào hoạt động đoàn thể thanh niên, dân quân du kích ở địa phương.

Năm 1946, khi giặc Pháp quay lại xâm chiếm nước ta lần 2, để mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Đà Nẵng, chúng bắn pháo vào chùa Non Nước, vào thôn Sơn Thủy và cho lính lùng sục, càn quét. Vì vậy bà con trong làng gồng gánh chạy đi tản cư vào Duy Xuyên, Đại Lộc. Mai Văn Phúc quyết tâm ở lại cùng với dân quân bảo vệ xóm làng. Và ông được chọn là một trong số 16 người ra tăng cường cho Tiểu đoàn 102 thuộc Trung đoàn 93 của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng để thực thi nhiệm vụ trên phòng tuyến phía bắc chùa Non Nước.

Sau khi được thực hiện quyền công dân là cầm lá phiếu đi bầu Quốc hội khóa đầu tiên vào ngày 6/1/1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia luyện tập quân sự ở đội du kích với khí thế hừng hực chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc.

Đầu tháng 2/1947, ông chính thức được gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn 93 Quảng Nam – Đà Nẵng, ông được phân công vào bộ phận liên lạc của tiểu đội Liên – Trinh (Liên lạc – trinh sát), và kiên quyết xin được đi chiến đấu.

Cuộc đời của Mai Văn Phúc được lật sang trang mới!

Những năm tháng trong quân ngũ, ông đã kinh qua nhiều trận đánh. Trong đó có những trận đánh đột kích vào thành phố Đà Nẵng hồi tháng 3/1947, khiến cho địch nhiều tổn thất, run sợ…

Từ tháng 10/1945 – 1/1947, ông tham gia vào đội tự vệ chiến đấu của xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam; và là chiến sĩ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Mặt trận Non Nước. Trong khoảng thời gian bốn năm (từ tháng 2/1947 đến tháng 5/1954), ông là Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó trinh sát Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Chi ủy viên.

Tháng 6/1954 đến tháng 9/1954, ông là Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Đảng ủy viên tiểu đoàn. Vốn là Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 93, Quân khu 5 tập kết ra Bắc; rồi Đảng ủy viên Tiểu đoàn, Phó bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn (từ tháng 10/1954 đến tháng 5/1955), tháng 6/1955 đến tháng 8/1959, theo sự phân công của tổ chức, ông được cử đi học khóa Học viên Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng; Học viên Trường Sỹ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh; Đại úy, Chi ủy viên.

Trước yêu cầu của cuộc đấu tranh chống Mỹ và bè lũ tay sai, tháng 9/1959 đến tháng 10/1963, ông đảm nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Xe tăng 202 – Trưởng đoàn đưa xe tăng sang chi viện cho nước bạn Lào; Đại úy, Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn, Đảng ủy viên Trung đoàn.

Từ tháng 8/1964 đến tháng 4/1967, ở cấp bậc Thiếu tá, Mai Văn Phúc là Trợ lý Phòng Quân báo Miền; Trưởng phòng J16 Cơ giới Miền; Đảng ủy viên Cục Tham mưu Miền, Bí thư Đảng ủy Phòng. Từ 1967 đến 1969, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính ủy Phòng Đặc công cơ giới Miền, Đảng ủy viên Cục Tham mưu, Bí thư Đảng ủy Phòng. Với cấp hàm Trung tá, từ tháng 2/1969 đến tháng 7/1971, ông lại đảm nhiệm chức Phó Chính ủy Lữ đoàn đặc công 429 miền Đông Nam bộ; Phó Bí thư Đảng ủy.

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/1971 đến tháng 6/1972, ông là Phó Chính ủy, Quyền Chính ủy Đoàn pháo binh 75 (Đoàn pháo binh Biên Hòa); Trung tá, Bí thư Đảng ủy. Tuy nhiên, đến tháng 7/1972, ông được cấp trên rút về bổ nhiệm làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn xe tăng 26 Miền; Trung tá, Bí thư Đảng ủy.

Tháng 1/1974, được sự chỉ đạo của cấp trên, ông chuyển về công tác tại Học viên Học viện Quân sự với cấp hàmThượng tá.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Mai Văn Phúc đã kinh qua nhiều công việc với nhiều trọng trách khác nhau, và dù ở vị trí vào ông cũng luôn hoàn thành trách nhiệm được giao. Từ việc trực tiếp tham gia đánh hướng Xuân Lộc, cửa ngõ then chốt tiến vào Sài Gòn vào tháng 4-1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh tới giai đoạn quyết liệt; rồi Cục phó Cục Xây dựng kinh tế Quân khu 7 - Thượng tá, Phó Bí thư Đảng ủy (1976 -1977); Cục phó, Quyền Cục trưởng Cục Quản lý Xe máy – Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Quản lý – Bảo đảm kỹ thuật xe tăng, Tổng cục Kỹ thuật - Thượng tá, Đại tá, Phó Bí thư, Bí thư Đảng ủy Cục (1977 -1980); Tư lệnh Binh đoàn 23 tham gia chuyên canh cao su ở Phú Riềng (tháng 8/1980 đến tháng 7/1982); đến Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 7, Tập huấn tại Học viện Malinopxki – Liên Xô; Đại tá, Bí thư Đảng ủy Cục (Tháng 8/1982 đến tháng 9/1985); Phó Tư lệnh Quân khu 7, kiêm Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 7, Đại tá, Thiếu tướng, Đảng ủy viên Quân khu, Phó Bí thư Đảng ủy Cục (tháng 10/1985 đến tháng 7/1990); và là Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách Kinh tế và Đối ngoại quân sự, Thiếu tướng, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7 (Tháng 8/1990 đến tháng 9/1995). Đến tháng 12/1997 về hưu ở tuổi 72 với quân hàm Thiếu tướng.

Hơn 52 năm trong quân ngũ, rèn luyện, chiến đấu, trưởng thành từ người chiến sĩ, ông được phong quân hàm cấp Tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7 và Tư lệnh Tăng - thiết giáp Miền (B2) đã đi vào lịch sử Quân khu và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một chuyện tình cảm động

Trong chiến tranh, có biết bao nhiêu gia đình bị chia cách. Vợ chồng đau đáu nhớ nhau song hiếm khi gặp được nhau. Vợ chồng Thiếu tướng Mai Văn Phúc cũng vậy.

Bồi hồi sống lại những ngày gặp gỡ đầu tiên ấy với cô thôn nữ Trần Kiều Sửu, Thiếu tướng Mai Văn Phúc kể: “Sau hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đơn vị tôi được lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên về đồng bằng, đóng quân ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi. Nhờ vậy mà người lính 30 tuổi, dày dạn trận mạc như tôi đã “phải lòng” nữ du kích xã Trần Kiều Sửu ấy khi đó mới có 18 tuổi. Đúng 2 tháng kể từ ngày “chạm” mặt đầu tiên, đám cưới của chúng tôi diễn ra thật ấm cúng tại sân kho của xã. Tiệc cưới chỉ có nước trà xanh và ít bánh kẹo mà không kém phần sôi nổi. Bà con biết tin, mang thịt lợn và các loại bánh đến tặng. Căn phòng hạnh phúc của đôi uyên ương được bố trí tại gian nhà kho của gia đình nhà vợ, chẳng có giường mà chỉ có mấy tấm ván mỏng xẻ từ thân cây xoài đặt giữa nhà làm chiếc gường tân hôn”. mai-van-phuc-gdnq-3.jpg

Vợ chồng Thiếu tướng Mai Văn Phúc (thứ 5 và thứ 6 từ trái sang, hàng ghế ngồi) trong buổi gặp mặt bạn chiến đấu Tăng thiết giáp Nam bộ.

Cưới được đúng 3 ngày thì vợ ông nhận lệnh ra Bắc tập kết, làm nhân viên thương nghiệp tại Thủ đô Hà Nội. Tiễn vợ ra Bắc, ông hứa hẹn sẽ gặp lại vợ vào ngày gần nhất, bởi ông cũng thuộc diện phải tập kết. Hơn 3 tháng sau, ông mới ra Bắc, nhưng đơn vị mãi tận Vĩnh Phúc.

Suốt 10 năm sống trên đất Bắc nhưng chưa lần nào ông được nghỉ phép ở cùng vợ con quá hai ngày đêm mà chỉ tranh thủ ghé về rồi "vụt cái" lại đi ngay. Thế mà 6 năm ông bà lần lượt có với nhau 4 người con.  

Ông nhớ lại: “Trước ngày ông nhận nhiệm vụ trở lại chiến trường miền Nam (tháng 6-1964), thì vợ mới báo tin là đang mang thai đứa con thứ 4”. 

Thương vợ quặn lòng, nhưng nợ nước chưa trả nên ông phải gấp rút trở lại chiến trường với lời dặn: “Lần này sinh trai hay gái, em cũng nhớ đặt tên con có hai chữ đầu là Mai Kiều để ghi lại kỷ niệm những ngày gian khổ, bảo đảm tình yêu và hạnh phúc của chúng mình khi xa cách”. Và đứa con trai thứ tư được đặt tên là Mai Kiều Hùng như ý nguyện của chồng.

Nỗi nhớ người chồng hiền hậu dài theo chiều dài đất nước, và nỗi lo cho người ra mặt trận nặng lòng gấp trăm vạn lần nỗi lo đời thường xuôi ngược trong những năm tháng khó khăn. Chồng đi biền biệt, vậy là một mình bà vừa công tác, vừa nuôi 4 đứa con thơ dại giữa Thủ đô không một người thân ruột thịt. Có những lúc ăn cơm một mình, bà càng thấy tủi hơn nhưng chỉ biết cố ghìm lòng mình lại để sống và nuôi con, chờ ngày đoàn tụ với chồng...

Thế rồi, cuộc hội ngộ với những người thân yêu trong gia đình tràn ngập nụ cười xen lẫn nước mắt sau hơn 20 năm xa cách cũng đến với vợ chồng Mai Văn Phúc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tạm biệt chiến trường, tạm biệt cây súng, ông trở về cuộc sống bình dị trong căn hộ nhỏ của cư xá Lam Sơn, xum vầy cùng vợ con.

Trút bỏ tấm áo bào nhuốm gió bụi chiến trường, ông khoác lên mình tấm áo đời thường thanh bạch, giản đơn. Cho dù bản thân là một vị tướng, nhưng chưa bao giờ ông cảnh vẻ, phô trương, trái lại đức tính giản dị, chân chất đã trở thành một phần cốt cách.

Ông luôn quan niệm, thành công của ngày hôm nay, phía sau luôn có dấu ấn của vợ - người đã kề vai, sát cánh chia sẻ, an ủi, và luôn động viên, chia sẻ công việc gia đình, chăm lo cho con ăn học để ông yên tâm chiến đấu. Chính vì vậy mà trong nhiều năm liền, vợ ông đạt danh hiệu phụ nữ “ba đảm đang”, được Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương “Vì sự nghiệp phụ nữ”, Bộ Quốc phòng tặng danh hiệu “Gia đình vẻ vang”, Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. 

Sự hy sinh thầm lặng

Trải qua hai cuộc chiến chống ngoại xâm, bước chân của Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã trải dài trên khắp mảnh đất hình S. Cuộc đời của ông trôi qua trên các chiến trường và bom đạn máu lửa. Thời gian trôi nhanh, từ một anh thanh niên gầy còm ngày nào chả mấy chốc đã trở thành một vị thiếu tướng đầy quyền uy. Tên tuổi của ông, chiến công của ông đã đầy ắp sau hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp nhà binh. Cho đến tận khi đất nước hoàn toàn độc lập thì ông vẫn phải bôn ba ở chiến trường để thực hiện nghĩa vụ cao cả của một sĩ quan cao cấp của QĐND VN.

Cống hiến cho đất nước thật nhiều, lúc nào cũng hoàn thành nhiệm vụ nhưng thật trớ trêu thay vị thiếu tướng này đã lãng quên nghĩa vụ của một người chồng, người cha. Cũng giống như bao vị tướng lĩnh khác, cả cuộc đời của ông đã cống hiến cho cách mạng, tổ quốc nhưng “tôi không hoàn thành được nghĩvụ của một người là trụ cột trong gia đình. Chưa bao giờ không hoàn thành nhiệm vụ mà tổ quốc giao phó nhưng với gia đình tôi luôn là người thất hẹn”.

Sung sướng và hạnh phúc

Nhân nhịp đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010, Thiếu tướng Mai Văn Phúc cùng đoàn 1.000 anh hùng, tướng lĩnh về thăm quê cha đất Tổ Thăng Long. Ông vinh dự phát biểu: “Có được thành quả như ngày hôm nay, các thế hệ cha anh và trực tiếp là chúng tôi đã không tiếc xương máu của mình, tất cả đều chung một lòng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Năm 1946, lần đầu tiên tôi cầm lá phiếu bầu đại biểu Quốc hội tại quê nhà và đến cuối năm đó tôi nhập ngũ lên đường chiến đấu. Tháng 4-1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh tới giai đoạn quyết liệt, tôi trực tiếp tham gia đánh hướng Xuân Lộc, cửa ngõ then chốt tiến vào Sài Gòn. Cuộc đời tôi đã từng sống và chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước, bây giờ khi sức khỏe không cho phép đi nhiều nơi thăm lại các đồng chí và chiến trường xưa nhưng tôi luôn mong có một ngày được ra thăm Hà Nội, thăm lại nơi mình từng chiến đấu. Lần này được cùng đoàn 1.000 anh hùng, tướng lĩnh về với đất Thăng Long, tôi rất sung sướng và hạnh phúc, tôi muốn được nhìn lại cảnh vật, được hồi tưởng và suy ngẫm về một thời đã qua. Qua sự kiện này, tôi đặc biệt kỳ vọng vào thế hệ trẻ hôm nay sẽ làm rạng danh đất nước ta đồng thời sẽ giữ gìn, phát huy những thành quả cách mạng mà cha anh chúng ta đã làm được”.

Bằng những chiến công oanh liệt trong kháng chiến và những việc làm tốt đẹp trong cuộc sống đời thường, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã được Đảng và Nhà nước phong tặng nhiều Huân chương danh hiệu cao qúy, như: Huân chương Độc Lập hạng Hai, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, 3 lần Dũng sĩ diệt Mỹ... Đặc biệt, vào ngày 2/9/2009, Thiếu tướng Mai Văn Phúc  đã vinh dự được trao tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Sáng mãi... bộ đội Cụ Hồ

Đón xuân Nhâm Thìn 2012, Thiếu tướng – Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã bước sang tuổi 85. Hơn 5 thập kỷ cống hiến cho quân đội, ông về hưu với quân hàm thiếu tướng. Trở lại với đời thường, ông luôn tâm niệm: “Việc tri ân phải làm cả cuộc đời, từ thế hệ hôm nay đến thế hệ mai sau cũng chưa bù đắp hết sự hy sinh to lớn của cha ông”. Cũng bởi suy nghĩ như vậy, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã dành nhiều thời gian để tham gia các hoạt động từ thiện, ủng hộ nạn nhân chất độc da cam...

Trên cương vị là Phó Chủ tịch HĐH TP. Đà Nẵng tại TP.HCM, ông đã thăm hỏi những người đồng hương tại TP.HCM trong những lúc ốm đau, hoạn nạn... và vận động, quyên góp rất nhiều để giúp đỡ bà con ở quê nhà. Ông mong muốn được kết nối những người con xứ Quảng xa quê cũng như kêu gọi mọi người hãy hướng về quê hương để nâng đỡ những người nghèo và góp phần đưa quê hương vươn lên giàu mạnh... 

Giờ đây, Thiếu tướng Mai Văn Phúc vẫn sống bình dị với nụ cười nhân hậu luôn thường trực trên môi và ông coi công việc hoạt động xã hội và từ thiện như một phần tất yếu của cuộc sống thường ngày, vì ông hiểu sự sẻ chia trong tâm thức mỗi con người đã bao hàm cả sự ấm áp.

Chính những hoạt động từ thiện rất đáng trân trọng đó mà ông được UBND TP.Đà Nẵng tặng thưởng 3 Bằng khen vì đã có công lao đóng góp trong hoạt động đồng hương và tham gia đóng góp vào các công trình của Đà Nẵng tại TP.HCM; Bằng khen của UBND TP.HCM vì đã góp phần xây dựng địa phương; đặc biệt, ông 2 lần vinh dự được Mặt trận Tổ quốc TP.HCM tuyên dương “Gương người tốt việc tốt” cấp Thành phố…

Ngoài xã hội, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã và đang làm gương của một người cộng sản chân chính, một người cách mạng lão thành đầy nhiệt huyết, được mọi người tin yêu kính trọng. Trong gia đình ông còn là người ông, người chồng, người cha mẫu mực. Vợ chồng ông là tấm gương chung thủy hạnh phúc, sống hòa thuận tình làng nghĩa xóm, ai ai cũng mến phục. Năm người con của ông (3 trai 2 gái) đều có trình độ đại học, thành đạt trong cuộc sống. Mười cháu nội ngoại của ông là những người siêng năng, hiếu học, lễ phép với mọi người.

Và sau cuộc trò chuyện với ông, tôi tin rằng: Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian với sức tàn phá khủng khiếp của nó có thể làm băng hoại mọi thứ, song chân dung Thiếu tướng Mai Văn Phúc – người cả đời sống và cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước sẽ còn lại mãi với thời gian...

Kiều Nguyễn

1709 lượt xem
0 bình luận
Tên của bạn:
Email  
Tiêu đề
Nội dung
Tải tập tin  
Mã xác nhận
Captcha

Nhập mã xác nhận
 
 
Thông tin cần biết
  
  
THEO DÒNG THỜI SỰ
Một lần viếng cảnh Ngũ Hành Sơn, cụ Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng luận rằng: “Núi thấp hơn hế...
Chiều 12.12, trong phiên trả lời chất vấn tại cuộc họp đại biểu Hội đồng nhân dân Đà Nẵng ...
Do gánh chịu liên tiếp những trận mưa lũ vừa qua nên người trồng ở Quảng Ngãi đang phải ch...
Trong cái se lạnh đầu đông, dưới chân núi Ngũ Hành, đôi ba câu chuyện bên ấm trà nóng với ...
ĐẶT LÀM TRANG CHỦ LIÊN HỆ LIÊN HỆ QUẢNG CÁO ĐẶT BÁO ĐƯỜNG DÂY NÓNG TUYỂN DỤNG
Đơn vị chủ quản: Cty TNHH Kết Nối Thiên Phong
®Nguoiquangxaque giữ bản quyền nội dung trên website này
Được xây dựng bởi code aspx, code dotnet